Hướng dẫn mua bán BITCOIN chi tiết => Bấm vào đây
Tải app VNPAY nhận ngay 50.000 vào ví => Bấm vào đây
(Diemchuantuyensinh.com) ÁNH TRĂNG - NGUYỄN DUY
THƠ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM - 1945
A. Kiến thức cần nhớ:
1.
Tác giả:
- Nguyễn Duy sinh năm 1948, tên
khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, quê ỏ làng Quảng Xá, xã Đông Vệ, thành phố Thanh
Hoá.
- Năm 1966, ông nhập ngũ vào bộ
đội thông tin, tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường.
- Nguyễn Duy được trao giải nhất cuộc thi thơ
báo văn nghệ 1973 với chùm thơ bốn bài (Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Giọt nước
mắt và nụ cười, Bầu trời vuông). Từ giải thưởng này, Nguyễn Duy trở thành một
gương mặt tiêu biểu trong lớp nhà thơ trẻ thời kì kháng chiến chống Mĩ và tiếp
tục bền bỉ sáng tác.
- Sau năm 1975, ông chuyển về
làm báo Văn nghệ giải phóng. Từ năm 1977, Nguyễn Duy là đại diện thường trú báo
Văn nghệ tại các tỉnh phía Nam ở thành phố HCM.
2.Tác phẩm:
- Hoàn cảnh: Bài thơ “Ánh
trăng” được viết năm 1978 tại thành phố HCM, in trong tập “Ánh trăng” - tập thơ
của Nguyễn Duy được giải A của Hội nhà văn Việt Nam 1984. Nguyễn Duy viết bài
thơ này vào lúc cuộc kháng chiến đã khép lại ba năm. Ba năm sống trong hoà
bình, không phải ai cũng còn nhớ những gian khổ và kỉ niệm nghĩa tình trong quá
khứ. Nguyễn Duy viết “Ánh trăng” như một lời tâm sự, một lời nhắn nhủ chân tình
với chính mình, với mọi người về lẽ sống chung thuỷ, nghĩa tình.
- Thể thơ: 5 tiếng: nhiều khổ
thơ, mỗi khổ 4 dòng, vần chân, dãn cách.
- Phương thức biểu đạt: biểu
cảm thông qua tự sự
- Bố cục:
2 đoạn
+ Đoạn 1:
hai khổ đầu: cảm nghĩ về vầng trăng quá khứ
+ Đoạn 2:
Còn lại: cảm nghĩ về vầng trăng hiện tại.
ÁNH TRĂNG - NGUYỄN DUY
TP. Hồ Chí Minh, 1978
Nguồn: Nguyễn Duy, Ánh trăng, NXB Tác phẩm mới, 1984
ÁNH TRĂNG - NGUYỄN DUY
Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với biển
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỷ
Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa
Từ hồi về thành phố
quen ánh điện cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường
Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn-đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn
Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng
Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình
với sông rồi với biển
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỷ
Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa
Từ hồi về thành phố
quen ánh điện cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường
Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn-đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn
Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng
Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình
TP. Hồ Chí Minh, 1978
Nguồn: Nguyễn Duy, Ánh trăng, NXB Tác phẩm mới, 1984
B. Câu hỏi luyện tập:
Câu1 : Ánh trăng là một nhan đề đa nghĩa. Hãy phân tích
- Chúng ta đã từng biết đến vầng trăng nhớ cố hương
của tiên thi Lý Bạch, từng rung cảm trước vẻ đẹp của ánh trăng - người bạn tri
âm với người tù cộng sản HCM (Vọng nguyệt- NKTT). Và với bài thơ Ánh trăng,
Nguyễn Duy đã làm phong phú và giàu có thêm vẻ đẹp cũng như ý nghĩa của vầng
trăng đã quen thuộc từ ngàn đời.
+ Trước hết, ánh trăng của Nguyễn Duy là hình ảnh
đẹp của thiên nhiên với tất cả những gì là thi vị, gần gũi, hồn nhiên, tươi
mát. Trong hai khổ thơ đầu, vầng trăng hiện ra trong không
gian của ruộng đồng, sông biển, núi rừng. Đó là vầng trăng của “hồi nhỏ sống
với đồng”, Ánh
trăng gắn với tuổi ấu thơ của tác giả (d/c). Vầng trăng ấy hồn nhiên như cuộc
sống, như đất trời (d/c)
+ Nhưng nếu chỉ có vậy, ánh trăng của Nguyễn Duy sẽ
lẫn với vô vàn ánh trăng khác trong thơ ca hiện đại. Cũng giống như trăng của
người bạn tù, vầng trăng của Nguyễn Duy đã thành “tri kỉ”- người bạn tình
nghĩa. Ánh trăng thời chiến như chia sẻ những thử thách của chiến tranh, như
cùng nhà thơ và đồng đội trải qua những kỉ niệm của thời “ở rừng”. Vầng trăng
tri kỉ, vầng trăng tình nghĩa ấy: dấu ấn của một thời gian khó : “ngỡ không bao
giờ quên”.
+ Nhưng nhan đề “ánh trăng” còn thực sự sâu sắc, ý
nghĩa bởi vầng trăng ấy còn là biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình - kí ức gắn
với cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước cam go mà hào hùng. Cuộc sống hoà bình
“ánh điện cửa gương, buyn đinh” đã khiến cho nhà thơ nhìn ánh trăng như một
“người dưng qua đường”. Con người từng một thời chiến đấu, từng ngang dọc trên
nhiều chiến trường đã có lúc như lãng quên quá khứ. Nhưng rồi thình lình đèn
điện tắt…. :”đột ngột vầng trăng tròn”. Vầng trăng ấy đã đánh thức kí ức của
tác giả, của thế hệ trẻ Việt Nam trong những ngày đánh Mĩ, thắng Mĩ.
- Ánh trăng lặng lẽ toả sáng trong bài thơ hay lặng
lẽ như lời nhắc nhở giản dị mà sâu lắng: không được phép lãng quên quá khứ, có
những thử thách, những hi sinh, những tổn thất thời đánh Mĩ ác liệt mới có cuộc
sống hoà bình ngày hôm nay.
Câu 2: Phân tích 2
khổ thơ cuối của bài thơ “ánh trăng”
- Trăng và con người đã gặp
nhau trong một giây phút tình cờ. Con người không còn muốn trốn chạy vầng
trăng, trốn chạy cả bản thân mình được nữa. Tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” là
tư thế đối mặt: “mặt” ở đây chính là vầng trăng tròn. Con người thấy mặt trăng
là thấy được người bạn tri kỉ ngày nào. Cách viết thật lạ và sâu sắc- dùng những
từ không trực tiếp để diễn tả sự xúc động, cảm động chợt dâng trào trong lòng
anh khi gặp lại vầng trăng.
- Cảm xúc “rưng rưng”: tâm hồn đang rung động,
xao xuyến, gợi nhớ gợi thương. Nhịp thơ hối hả dâng trào như tình người dào
dạt. Niềm hạnh phúc của nhà thơ như đang được sống lại một giấc chiêm bao.
- Sự xuất
hiện đột ngột của vầng trăng làm ùa dậy ở tâm trí nhà thơ bao kỉ niệm quá khứ
tốt đẹp khi cuộc sống còn quá nghèo nàn, gian lao. Lúc ấy con người với thiên
nhiên trăng là tri kỷ, tình nghĩa.
Khổ thơ kết
lại bài thơ bằng hai vế đối lập mà song song:
“Trăng cứ
tròn vành vạnh
..............Đủ
cho ta giật mình”
- Ở đây có
sự đối lập giữa “tròn vành vạnh” và “kẻ vô tình”, giữa cái im lặng của ánh
trăng với sự “giật mình” thức tỉnh của con người. Vầng trăng có ý nghĩa biểu
tượng sâu sắc. Hình ảnh “vầng trăng tròn vành vạnh”, ngoài nghĩa đen là vẻ đẹp
tự nó và mãi mãi vĩnh hằng của cuộc sống còn có nghĩa tượng trưng cho vẻ đẹp
của nghĩa tình quá khứ, đầy đặn, thuỷ chung, nhân hậu bao dung của thiên nhiên,
của cuộc đời, con người, nhân dân, đất nước.
- Hình ảnh
“ánh trăng im phăng phắc” có ý nghĩa nghiêm khắc nhắc nhở nhà thơ và cả mỗi
chúng ta: con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng thiên nhiên, nghĩa
tình quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt. Sự không vui, sự trách móc trong lặng
im của vầng trăng là sự tự vấn lương tâm
dẫn đến cái “giật mình” ở câu thơ cuối. Cái “giật mình” là cảm giác và phản xạ
tâm lí có thật của một người biết suy nghĩ, chợt nhận ra sự vô tình, bạc bẽo,
sự nông nổi trong cách sống của mình. Cái “giật mình” của sự ăn năn, tự trách,
tự thấy phải đổi thay trong cách sống. Cái “giật mình” tự nhắc nhở bản thân
không bao giờ được làm người phản bội quá khứ, phản bội thiên nhiên, sùng bái
hiện tại mà coi rẻ thiên nhiên. Thiên nhiên thật nghiêm khắc, lạnh lùng nhưng
cũng thật ân tình, độ lượng bao dung, vầng trăng và thiên nhiên là trường tồn,
bất diệt. Thì ra những bài học sâu sắc về đạo lí làm người đâu cứ phải tìm
trong sách vở hay từ những khái niệm trừu tượng xa xôi. Ánh trăng thật sự đã
như một tấm gương soi để thấy được gương mặt thực của mình, để tìm lại cái đẹp
tinh khôi mà chúng ta tưởng đã ngủ ngon trong quên lãng.
Câu
3: Hình ảnh vầng
trăng trong bài thơ tượng trưng cho điều gì? Ý nghĩa khái quát của bài thơ “Ánh
trăng”.
Gợi
ý:
a. H×nh
ảnh vầng trăng trong bài thơ trước hết là vầng trăng của tự nhiên. Nhưng vầng
trăng còn là biểu tượng của quá khứ đầy tình cảm, khi con người trần trụi giữa
thiên nhiên, hồn nhiên, không so đo, tính toán. Khi đó, tâm hồn con người rộng
mở, khoáng đạt như sông, như đồng, như bể, như rừng. Toàn là những hình ảnh
thiên nhiên rộng dài, hùng vĩ. Nhưng khi kháng chiến thành công thì con người
nhốt mình vào cửa kính, buyn – đinh, sống riêng cho mình, cho cái cá nhân nhỏ
bé. Bởi thế mà không gần gũi, không mặn mà với vầng trăng. Lúc này trăng tượng
trưng cho quá khứ ân tình, cho những tình cảm lớn lao mộc mạc nhưng bất tử,
sáng trong mãi mãi. Con người có thể quên quá khứ, nhưng quá khứ không bao giờ
quên. Trăng cứ tròn vành vạnh cũng như quá khứ tươi đẹp không bao giờ mờ phai,
không bao giờ khuyết thiếu. Chỉ có những ai mê mải với cái riêng mới có thể
dửng dưng. Nhưng vầng trăng ấy bao dung, không “kể chi người vô tình”. Chính
thái độ lặng im cao thượng ấy càng làm những ai sớm quên quá khứ nghĩa tình
phải giật mình.
b.Bài thơ
“Ánh trăng” là tâm sự của Nguyễn Duy, là suy ngẫm của nhà thơ trước sự đổi thay
của hoàn cảnh sống, khi mà con người từ chiến tranh trở về cuộc sống hoà bình.
Những sông, đồng, biển, rừng là hình ảnh tượng trưng, nhưng cũng là hình ảnh
thật của những người kháng chiến. Thành phố là môi trường mới, là vùng đất mà
trước đây những người kháng chiến không đặt chân tới (trừ các chiến sĩ hoạt
động bí mật). Môi trường mới, tiện nghi mới,
hoàn cảnh mới làm cho con người sống cách biệt với thiên nhiên, cũng có
nghĩa là xa dần quá khứ, lạnh nhạt dần với quá khứ. Ánh trăng cảnh báo hiện
tượng suy thoái về tình cảm, sẽ dẫn đến suy thoái lối sống, suy thoái đạo đức.
Nó nhắc nhở con người cần thuỷ chung với quá khứ, với những điều tốt đẹp của
quá khứ (không có mới nới cũ)
Câu 4: Phân tích đoạn cuối bài thơ “Ánh trăng”.
Khổ thơ cuối cùng là nơi tập
trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng:
Trăng
cứ tròn vành vạnh
Kể
chi người vô tình
ánh
trăng im phăng phắc
Đủ
cho ta giật mình.
- Vầng trăng nằm toả sáng, tròn
đầy, đó là một hiện tượng bình thường của thiên nhiên: trăng khuyết rồi lại
tròn. Hình ảnh trăng được Nguyễn Duy miêu tả tròn đầy, vành vạnh, toả sáng khắp
nơi. Trong không gian buyn đinh tối om, đèn điện tắt, ánh trăng càng trở nên có
giá trị.
- Mặc cho con người vô tình,
“trăng cứ tròn vành vạnh”, đó là vẻ đẹp tự nó và mãi mãi vĩnh hằng. Đó còn là
hình ảnh tượng trưng cho vẻ đẹp và những giá trị truyền thống.
- “Ánh trăng im phăng
phắc”=> VẦng trăng cứ lặng lẽ toả sáng, không lời, phép nhân hoá khiến hình
ảnh vầng trăng hiện ra như một con người cụ thể, một người bạn, một nhân chứng,
rất nghĩa tình nhưng cũng vô cùng nghiêm khắc đang nhắc nhở con người, một lời
nhắc nhở thấm thía, độ lượng nhưng đủ làm để làm con người “giật mình” nhận ra
sự vô tình lãng quên quá khứ tốt đẹp,
tức là con người đang phản bội lại chính mình. Nó còn có ý nhắc nhở con người
nên trân trọng, giữ gìn vẻ đẹp và những giá trị truyền thống.
Tham khảo
bài viết của hs:
Hình ảnh
vầng trăng rằm toả sáng được Nguyễn Duy miêu tả là một hiện tượng bình thường
của tự nhiên: vầng trăng vũ trụ khuyết rồi lại tròn. Nhưng trong không gian
“phòng buyn đinh tối om”, ánh trăng hiện lên lại quý giá biết bao, vị tha nhân
hậu biết chừng nào! Trăng cứ tròn vành vạnh hiện diện cho quá khứ đẹp đẽ chẳng
thể phai mờ. Quá khứ ấy lúc này đang soi rọi vào người lính, vẫn vẹn nguyên,
tình nghĩa, vẫn tròn đầy như thuở nào. Vầng trăng cứ lặng lẽ toả sáng, không
lời - sự im lặng ấy có giá trị hơn mọi lời nói nghiêm khắc, một lời nhắc nhở
thấm thía, độ lượng khiến cho tác giả giật mình”: con người có thể vô tình lãng
quên nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn tròn đầy bất diệt. Bởi có
quá khứ, có những thử thách, hi sinh tổn thất thời đánh Mĩ ác liệt mới có cuộc
sống hoà bình hôm nay. “Giật mình” là cảm giác, 1 phản xạ tâm lí của một con
người biết suy nghĩ, chợt nhận ra sự vô tình, bạc bẽo, sự nông nổi trong cách
sống của mình. Đó là cái giật mình tự nhắc nhở bản thân, tự ăn năn, day dứt,
hối hận, tự thấy mình phải đổi thay: con người không bao giờ được phản bội,
lãng quên quá khứ, thiên nhiên mà sùng bái hiện tại. Bài thơ được sáng tác năm
1978, 3 năm sau khi đất nước thống nhất, khoảng thời gian không dài, nhưng
những mục đích mới, cuộc sống mới với mưu toan hàng ngày làm con người ta như
bị cuốn vào một vòng xoáy mới. Những bận rộn, lo toan khiến con người dễ dàng
quay lưng, dửng dưng với những gì đã qua. Họ không hề biết rằng chính cái thờ
ơ, dửng dưng ấy đã vô tình “bóp chết” quá khứ thiên nhiên nghĩa tình, biến nó
thành kẻ xa lạ- “người dưng qua đường”. Khổ cuối bài thơ “Ánh trăng” chính là
một lời nói kịp thời, là hình ảnh biểu tượng ẩn chứa triết lí sâu sắc: không
được phép lãng quên quá khứ.
Câu 5:Phân tích, so sánh hình ảnh “TRăng” (vầng trăng,
mảnh trăng, ánh trăng....) trong các bài thơ “Đồng chí”, “Đoàn thuyền đánh cá”,
“Ánh trăng”.
Gợi ý:
Trăng trong cả ba bài thơ đều
là hình ảnh thiên nhiên đẹp, trong sáng, người bạn tri kỉ của con người trong
cuộc sống lao động và chiến đấu, trong sinh hoạt hàng ngày.
- Trăng trong “Đồng chí” là
biểu tượng của tình đồng chí, gắn bó keo sơn trong cuộc sống chiến đấu gian khổ
thời kì đầu kháng chiến chống Pháp, biểu tượng của hiện thực và lãng mạng, trở
thành nhan đề của cả tập thơ “Đầu súng trăng treo”
- Trăng trong “Đoàn thuyền đánh
cá” là cánh buồm chuyên chở và nâng bổng niềm vui hào hứng trong lao động làm
chủ tập thể của những ngư dân đi đánh cá đêm, vẽ nên bức tranh sơn mài biển
vàng biển bạc.
“Cái
đuôi em quẫy trăng vàng choé
Đêm
thở sao lùa nước Hạ Long”
*. Trăng trong “Ánh trăng” là
vầng trăng tròn vành vạnh, im phăng phắc đột ngột ùa vào phòng buyn đinh tối om
trong đêm hoà bình mất điện ở thành phố Hồ Chí Minh đã khiến nhà thơ giật mình,
ân hận, day dứt về suy nghĩ và cách sống hiện tại của mình. Ánh trăng như người
bạn thân nhắc nhở, lay tỉnh lương tâm của tác giả: không được vô ơn với quá
khứ, với đồng đội đã hi sinh với thiên nhiên nhân hậu và bao dung
Câu 6: Chép thuộc lòng đoạn kết bài thơ “Ánh trăng”của Nguyễn Duy. Hình ảnh
vầng trăng trong bài thơ có ý nghĩa gì? Từ đó em hiểu gì về chủ đề của bài thơ?
(viết một đoạn diễn dịch khoảng 10 – 12 câu)
Gợi ý:
Vầng trăng trong bài thơ là một
hình ảnh đa nghĩa
+ Vầng trăng là hình ảnh của
thiên nhiên hồn nhiên, tươi mát, là người bạn suốt thời nhỏ tuổi, rồi thời
chiến tranh ở rừng.
+ Vầng trăng là biểu tượng cho
quá khứ nghĩa tình, hơn thế trăng còn là vẻ đẹp bình dị, vĩnh hằng của đời
sống.
+ Ở khổ thơ cuối cùng, trăng
tượng trưng cho quá khứ vẹn nguyên chẳng thể phai mờ, là người bạn, là nhân
chứng nghĩa tình mà nghiêm khắc nhắc nhở nhà thơ và cả mỗi chúng ta. Con người
có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn
tròn đầy, bất diệt.
3.Từ đó, em hiểu chủ đề của bài
thơ là: Bài thơ là tiếng lòng, là những suy ngẫm thấm thía, nhắc nhở ta về thái
độ, tình cảm đối với những năm tháng quá khứ gian lao, nghĩa tình đối với thiên
nhiên, đất nước bình dị, h iền hậu. Bài thơ có ý nghĩa nhắc nhở, củng cố người
đọc thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thuỷ chung cùng quá khứ.
Câu 7: Có bạn không hiểu vì sao suốt bài thơ, tác giả bốn lần gọi là “vầng
trăng” mà nhan đề và khổ thơ cuối lại viết về “ánh trăng”. Bạn ấy cũng không
hiểu vì sao cùng viết về ánh trăng mà bài thơ “Ánh trăng” lại có một sức hấp
dẫn riêng. Em hãy giải thích cho bạn ấy đó chính là sự sáng tạo độc đáo của
Nguyễn Duy góp phần thể hiện chủ đề.
Gợi ý:
- Vầng trăng là một thi đề rất
cổ điển của thi ca. Bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy có một sức hấp dẫn
riêng.
- Nếu trước đây, vầng trăng chỉ
tượng trưng cho thiên nhiên đất nước tươi đẹp và vĩnh hằng: “một nửa vầng trăng
thôi. Một nửa cứ đứng yên ở cuối trời” hay tượng trưng cho tình yêu son sắt,
thuỷ chung không bao giờ phai như ánh trăng trong lời thề nguyền của TKiều và
KT, trong lời tỏ tình của Rômêo và juliét thì nay vầng trăng của Nguyễn Duy còn
thêm một lớp nghĩa mới. Vầng trăng đó còn biểu hiện cho quá khứ nghĩa tình của
con người, gợi nhớ cái tuổi thơ êm ấm, được hoà mình vào thiên nhiên tươi đẹp
hay những đêm gian khổ, khó khăn ác liệt của cuộc đời người lính. Vầng trăng
còn là một phần đẹp đẽ trong con người, vẻ đẹp của sự sáng trong và thánh
thiện. Nguyễn Duy đã mở rộng và phát triển ý nghĩa của vầng trăng, nâng cao
khái niệm tình yêu thành mối tình quá khứ của chính mình. Không những thế, tác
giả còn hấp dẫn người đọc bởi khả năng tạo tình huống của mình:
“thình lình đèn điện tắt….
tròn”
Nay đã gặp xưa, trong một hoàn
cảnh mà con người khó lòng ngoảnh mặt đi như thế. Tình huống đã đã phần nào chỉ
ra rằng: trong dòng đời hối hả ta đã vô tình quên đi vầng trăng thì có những
khoảnh khắc vầng trăng xuất hiện nhưng vẫn tròn vành vạnh. Bài thơ như một lời
tự sự của chính mình. Chính vì thế nó có sức thuyết phục cao, dễ đi vào lòng
người chứ không khô khan như một bài triết lí. Thể thơ 5 chữ trước đây vốn rất
phù hợp với những câu chuyện nhẹ nhàng mang tính ngụ ngôn nay được tác giả sử
dụng kết hợp với giọng điệu tâm tình làm bài thơ khi thì trôi chảy, tự nhiên
nhịp nhàng như lời kể chuyện, khi thì thiết tha xúc động và cuối cùng lại trầm
lắng suy tư. Và đặc biệt hơn nữa là thể
thơ 5 chữ cũng được tác giả thay đổi và viết theo kiểu thơ vắt dòng làm ý thơ
liền mạch như môộ câu chuyện bằng văn xuôi nhẹ nhàng tình cảm.
Nhưng đặc sắc nhất là trong bài
thơ 4 lần tác giả viết là vầng trăng trong khi nhan đề và khổ cuối lại là “Ánh
trăng”. Đối với tác giả, vầng trăng là một người bạn tri âm, tri kỉ, từ hồi thơ
ấu và khi ở chiến trường. Vì thế xuyên suốt bài thơ là hình ảnh “vầng trăng”.
Còn hình ảnh “ánh trăng” là ánh sáng của vầng trăng, quầng sáng của vầng trăng,
là sự tinh tế, nhẹ nhàng của thiên nhiên. Vầng trăng có lúc tròn, lúc khuyết
nhưng ánh trăng luôn luôn có màu vàng không đổi, soi sáng toả mát xuốnc cõi
lòng của con người làm mỗi người thêm thanh thản nhẹ nhàng. Khó có thể nói “vầng trăng theo
suốt ta cả cuộc đời” vì vâầngtrăng không phải lúc nào cũng xuất hiện nhnưg rất
phù hợp nếu nói rằng: “ánh trăng theo ta suốt cả cuộc đời” vì ánh trăng không
chỉ là ánh sáng của vâầngtrăng mà còn là ánh sáng trong mỗi tâm hồn. Rõ ràng,
hình ảnh “ánh trăng” mang ý nghĩa rộng hơn hình ảnh “vầng trăng”
Tác giả đã rất tinh tế trong
việc dùng “ánh trăng” thay vì “vầng trăng” trong nhan đề và khổ thơ cuối. Đó
cũng là một sáng tạo rất độc đáo của ông, góp phần làm tác phẩm ánh trăng có
giá trị nội dung và nghệ thuật cao.
C. Mét sè ®Ò TËp lµm v¨n:
Ph©n tÝch niÒm t©m sù s©u kÝn cña NguyÔn Duy qua
bµi th¬ “ ¸nh tr¨ng”
Dàn ý 1
I. Mở bài
- Ánh trăng là đề tài quen thuộc của thi ca, là cảm hứng
sáng tác vô tận cho các nhà thơ
- Nguyễn Duy, một nhà thơ tiêu biểu cho thế hệ trẻ sau
năm 1975 cũng góp vào mảng thơ thiên nhiên một “Ánh trăng”.
- Với Nguyễn Duy, ánh trăng không chỉ là niềm thơ mà
còn được biểu đạt một hàm nghĩa mới,
mang dấu ấn của tình cảm thời đại: Ánh trăng là biểu tượng cho quá khứ trong
mỗi đời người.
- Đối diện trước vầng trăng, người lính đã giật mình về sự vô tình trước thiên nhiên, vô tình với
những kỉ niệm nghĩa tình của một thời đã qua. Bài thơ “Ánh trăng” giản dị như
một niềm ân hận trong tâm sự sâu kín ấy của nhà thơ.
II. Thân
bài.
1 Cảm nghĩ về vầng trăng quá khứ
- Ánh trăng gắn
với những kỉ niệm trong sáng thời thơ ấu tại làng quê:
“Hồi nhỏ sống với rừng
Với sông rồi với biển”
- Con người khi đó sống giản dị, thanh cao, chân thật
trong sự hoà hợp với thiên nhiên trong lành: “trần trụi với thiên nhiên - hồn
nhiên như cây cỏ”
- Ánh trăng gắn bó với những kỉ niệm không thể nào quên
của cuộc chiến tranh ác liệt của người lính trong rừng sâu.
“Hồi chiến tranh ở rừng
Vầng trăng thành tri kỉ
Trần trụi với thiên nhiên
Hồn nhiên như cây cỏ
Ngỡ không bao giờ quên
Cái vầng trăng tình nghĩa”
->Trăng khi đó là ánh sáng
trong đêm tối chiến tranh, là niềm vui bầu bạn của người lính trong gian lao
của cuộc kháng chiến - vầng trăng tri kỉ. Nhân vật trữ tình gắn bó với trăng
trong những năm dài kháng chiến. Trăng vẫn thuỷ chung, tình nghĩa.
2. Cảm nghĩ về vầng trăng hiện tại.
Từ hồi về thành phố
Quen ánh điện cửa gương
Vầng trăng đi qua ngõ
Như người dưng qua đường
- Vầng trăng tri kỉ ngày nào nay đã trở thành “người
dưng” - người khách qua đường xa lạ
+ Sự thay đổi của hoàn cảnh sống- không gian khác biệt,
thời gian cách biệt, điều kiện sống cách biệt
+ Hành động “vội bật tung cửa sổ” và cảm giác đột ngột
“nhận ra vầng trăng tròn”, cho thấy quan hệ giữa người và trăng không còn là
tri kỉ, tình nghĩa như xưa vì con người lúc này thấy trăng như một vật chiếu
sáng thay thế cho điện sáng mà thôi.
+ Câu thơ dưng
dưng - lạnh lùng - nhức nhối, xót xa
miêu tả một điều gì bội bạc, nhẫn tâm vẫn thường xảy ra trong cuộc
sống.
=> Từ sự xa lạ giữa người với trăng ấy, nhà thơ muốn
nhắc nhở : đừng để những giá trị vật chất điều khiển chúng ta....
3.
Niềm suy tư của tác giả và tấm lòng của vầng trăng.
- Trăng và con người đã gặp nhau trong một giây
phút tình cờ.
+ Vầng trăng xuất hiện vẫn một
tình cảm tràn đầy, không mảy may sứt mẻ.
+ “Trăng tròn”, hình ảnh thơ
khá hay, tình cảm trọn vẹn, chung thuỷ như năm xưa.
+Tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt”
là tư thế đối mặt: “mặt” ở đây chính là vầng trăng tròn (nhân hoá). Con người
thấy mặt trăng là thấy được người bạn tri kỉ ngày nào. Cách viết thật lạ và sâu sắc!
- Ánh trăng đã thức dậy những kỉ niệm quá khứ
tốt đẹp, đánh thức lại tình cảm bạn bè năm xưa, đánh thức lại những gì con
người đã lãng quên.
+ Cảm xúc “rưng rưng” là biểu
thị của một tâm hồn đang rung động, xao xuyến, gợi nhớ gợi thương khi gặp lại
bạn tri kỉ.
+ Nhịp thơ hối hả dâng trào như
tình người dào dạt. Niềm hạnh phúc của nhà thơ như đang được sống lại một giấc
chiêm bao.
- Ánh Trăng
hiện lên đáng giá biết bao, cao thượng vị tha biết chừng nào:
“Trăng cứ
tròn vành vạnh
..............Đủ
cho ta giật mình”
+ Trăng tròn vành vạnh là hiện
diện cho quá khứ đẹp đẽ không thể phai mờ. Ánh trăng chính là người bạn nghĩa
tình mà nghiêm khắc nhắc nhở nhà thơ và
cả mỗi chúng ta: con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng thiên nhiên,
nghĩa tình quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt.
+“Giật mình” là cảm giác và
phản xạ tâm lí có thật của một người biết suy nghĩ, chợt nhận ra sự vô tình,
bạc bẽo, sự nông nổi trong cách sống của mình. Cái “giật mình” của sự ăn năn,
tự trách, tự thấy phải đổi thay trong cách sống. Cái “giật mình” tự nhắc nhở
bản thân không bao giờ được làm người phản bội quá khứ, phản bội thiên nhiên,
sùng bái hiện tại mà coi rẻ thiên nhiên.
=> Câu thơ thầm nhắc nhở
chính mình và cũng đồng thời nhắc nhở chúng ta, những người đang sống trong hoà
bình, hưởng những tiện nghi hiện đại, đừng bao giờ quên công sức đấu tranh cách
mạng của biết bao người đi trước.
III. Kết luận:
Cách 1:
- Bài thơ
“Ánh trăng” là một lần “giật mình” của Nguyễn Duy về sự vô tình trước thiên
nhiên, vô tình với những kỉ niệm nghĩa tình của một thời đã qua.
- Nó gợi ra trong lòng chúng ta nhiều suy ngẫm sâu sắc về
cách sống, cách làm người, cách sống ân
nghĩa thuỷ chung ở đời.
- Ánh trăng
thật sự đã như một tấm gương soi để thấy được gương mặt thực của mình, để tìm
lại cái đẹp tinh khôi mà chúng ta tưởng đã ngủ ngon trong quên lãng.
========================
Dàn ý 2
I. Mở bài
Cách 1
- Giới thiệu đôi nét về nhà thơ
Nguyễn Duy: là một trong những gương mặt tiêu biểu trong lớp nhà thơ trẻ thời
kì kháng chiến chống Mĩ.
- Giới thiệu đôi nét về bài thơ
“Ánh Trăng”
+ In trong tập “Ánh Trăng”- tập
thơ được giải A của Hội nhà văn Việt Nam
+ Thể thơ 5 chữ kết hợp kết hợp
chặt chẽ giữa tự sự với trữ tình
+ Viết vào thời điểm cuộc kháng
chiến đã khép lại 3 năm, Nguyễn Duy viết “Ánh trăng” như một lời tâm sự, một
lời nhắn nhủ chân tình với chính mình, với mọi người về lẽ sống chung thuỷ,
nghĩa tình.
Cách 2:
Thơ xưa cũng như nay, thiên nhiên luôn là nguồn cảm hứng sáng tác vô tận cho
các nhà văn, nhà thơ. Đặc biệt là ánh trăng. Xưa, Lý Bạch khi đối diện với vầng
trăng đã giật mình thảng thốt nhớ cố hương. Nay, Nguyễn Duy, một nhà thơ tiêu
biểu cho thế hệ trẻ sau năm 1975 cũng góp vào mảng thơ thiên nhiên một ánh
trăng.Và đối diện trước vầng trăng, người lính đã giật mình về sự vô tình trước thiên nhiên, vô tình với
những kỉ niệm nghĩa tình của một thời đã qua. Bài thơ “Ánh trăng” giản dị như
một niềm ân hận trong tâm sự sâu kín ấy của nhà thơ.
Cách 3: Ta
gặp đâu đây ngòi bút tài hoa của Nguyễn Duy trong tác phẩm : “Tre Việt Nam”, “Hơi
ấm ổ rơm”..... Nhưng khi hoà bình lập lại, ông đã chuyển sang một trang mới
viết về sự chuyển mình của đất nước, của con người cuộc sống đời thường đang
che lấp mất dần những điều đáng quý mà họ vốn có. Bài thơ “Ánh trăng” là một
bài thơ tiêu biểu cho chủ đề đó. Bài thơ như một lời tự nhắc nhở của tác giả về
những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên
đất nước đồng thời thức dậy trong tâm hồn người lính lòng trung hiếu trọn vẹn
với nhân dân.
Cách 4:
Trăng trong thơ vốn là một vẻ đẹp trong trẻo, tròn đầy, đó là cái gì lãng mạn
nhất trong cuộc đời, nhất là trong hai trường hợp: khi con người ta còn ở tuổi
ấu thơ hoặc khi có những tâm sự cần phải
chia sẻ, giãi bầy. Ánh trăng của Nguyễn Duy là cái nhìn xuyên suốt cả hai thời
điểm vừa nêu. Chỉ có điều, đây không phải là một cái nhìn xuôi, bình lặng từ
trước đến sau, mà là cách nhìn ngược: từ hôm nay mà nhìn lại để thấy có cái hôm
qua trong cái hôm nay. Bài thơ như một câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự
thời gian nhắc nhở về một thời đã qua của người lính gắn bó với thiên nhiên,
bình dị, hiền hoà, với nghĩa tình đằm thắm sáng trong.
II. Thân
bài.
1. Đề tài
“Ánh trăng”
- Đây là một đề tài quen thuộc của thơ ca xưa đặc biệt là
thơ lãng mạn: (Thuyền ai đậu bến sông trăng đó. Có chở trăng về kịp tối nay
(Hàn Mạc Tử); khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền (HCM); Ngẩng đầu nhìn
trăng sáng. Cúi đầu nhớ cố hương (Lý Bạch)
- Với Nguyễn Duy, ánh trăng không chỉ là niềm thơ mà
còn được biểu đạt một hàm nghĩa mới,
mang dấu ấn của tình cảm thời đại: Ánh trăng là biểu tượng cho quá khứ trong
mỗi đời người.
2. Phân tích
tâm sự sâu kín của Nguyễn Duy qua bài thơ “Ánh trăng”.
a. Cảm nghĩ về vầng trăng quá khứ
Trước hết là hình ảnh vầng trăng tình nghĩa,
hiền hậu, bình dị gắn liền với kỉ niệm
một thời đã qua, một thời nhà thơ hằng gắn bó.
- Ánh trăng gắn
với những kỉ niệm trong sáng thời thơ ấu tại làng quê:
“Hồi nhỏ sống với rừng
Với sông rồi với biển”
- Nhớ đến trăng là nhớ đến không gian bao la. Những
“đồng, sông, bể” gọi một vùng không gian quen thuộc của tuổi ấu thơ, có những
lúc sung sướng đến hả hê được chan hoà, ngụp lặn trong cái mát lành của quê
hương như dòng sữa ngọt.
- Những năm tháng
gian lao nơi chiến trường, trăng thành người bạn tri kỉ, gắn với những kỉ niệm
không thể nào quên của cuộc chiến tranh ác liệt của người lính trong rừng sâu:
khi trăng treo trên đầu súng, trăng soi sáng đường hành quân. Vầng trăng ấy
cũng là “quầng lửa” theo cách gọi của nhà thơ Phạm Tiến Duật. Trăng thành người
bạn chia sẻ ngọt bùi, đồng cảm cộng khổ và những mất mát hi sinh, vầng trăng
trở thành người bạn tri kỉ với người lính.
“Hồi chiến tranh ở rừng
Vầng trăng thành tri kỉ
Trần trụi với thiên nhiên
Hồn nhiên như cây cỏ
Ngỡ không bao giờ quên
Cái vầng trăng tình nghĩa”
- Con người khi đó sống giản dị, thanh cao, chân thật
trong sự hoà hợp với thiên nhiên trong lành: “trần trụi với thiên nhiên - hồn
nhiên như cây cỏ”. Cuộc sống trong sáng và đẹp đẽ lạ thường.
- Hôm nay, cái vầng trăng tri kỉ, tình nghĩa ấy đã là quá
khứ kỉ niệm của con người. Đó là một quá khứ đẹp đẽ, ân tình, gắn với hạnh phúc
và gian lao của mỗi con người và của đất nước.
- Lời thơ kể không tả mà có sức gợi nhớ, âm điệu của lời
thơ như trùng xuống trong mạch cảm xúc bồi hồi.
b. Cảm nghĩ về vầng trăng hiện tại.
* Vầng trăng - người dưng qua đường.
- Sau tuổi thơ và chiến tranh, người lính từ giã núi rừng
trở về thành phố - nơi đô thị hiện đại.
Khi đó mọi chuyện bắt đầu đổi khác:
Từ hồi về thành phố
Quen ánh điện cửa gương
Vầng trăng đi qua ngõ
Như người dưng qua đường
- Vầng trăng tri kỉ ngày nào
nay đã trở thành “người dưng” - người khách qua đường xa lạ, còn con người đâu
còn son sắt thuỷ chung? => Một sự thay đổi phũ phàng khiến người ta không
khỏi nhói đau. Tình cảm xưa kia nay chia lìa.
- NT đối lập với khổ 1,2, giọng
thơ thầm thì như trò chuyện tâm tình, giãi bày tâm sự với chính mình. Tác giả
đã lí giải sự thay đổi trong mối quan hệ tình cảm một cách lô gíc.
- Vì sao lại có sự xa lạ, cách
biệt này?
+ Sự thay đổi của hoàn cảnh
sống- không gian khác biệt, thời gian cách biệt, điều kiện sống cách biệt: Từ hồi về thành phố, người lính xưa bắt đầu
quen sống với những tiện nghi hiện đại như “ánh điện, cửa gương”. Cuộc sống
công nghiệp hoá, hiện đại hoá của điện gương đã làm át đi sức sống của ánh
trăng trong tâm hồn con người. Trăng lướt nhanh như cuộc sống hiện đại gấp gáp,
hối hả không có điều kiện để con người nhớ về quá khứ. Và anh lính đã quên đi
chính ánh trăng đã đồng cam cộng khổ cùng người lính, quên đi tình cảm chân
thành, quá khứ cao đẹp nhưng đầy tình người.
Câu thơ dưng dưng - lạnh lùng - nhức nhối, xót xa miêu tả một điều gì bội bạc, nhẫn tâm vẫn
thường xảy ra trong cuộc sống. Có lẽ nào
sự biến đổi về kinh tế, về điều kiện sống tiện nghi lại kéo theo sự thay dạ đổi
lòng? (liên hệ: bởi thế mà ca dao mới lên tiếng hỏi: “Thuyền về có nhớ bến
chăng?”; Tố Hữu, nhân dân Việt bắc ở lại cũng băn khoăn một tâm trạng ấy khi
tiễn đưa cán bộ về xuôi:
Mình về thành thị xa xôi
Nhà cao còn thấy núi đồi nữa
chăng?
Phố đông còn nhớ bản làng
Sáng đêm còn nhớ mảnh trăng giữa
rừng? )
=> Từ sự xa lạ giữa người với trăng ấy, nhà thơ muốn
nhắc nhở : đừng để những giá trị vật chất điều khiển chúng ta....
c.
Niềm suy tư của tác giả và tấm lòng của vầng trăng.
- Sự xuất hiện trở lại của vầng
trăng thật đột ngột, ở vào một thời điểm không ngờ. Tình huống mất điện đột
ngột trong đêm khiến con người vốn đã quen với ánh sáng, không thể chịu nổi
cảnh tối om nơi căn phòng buyn đinh hiện đại. Ba động từ “vội, bật, tung” đặt
liền nhau diễn tả sự khó chịu và hành động khẩn trương, hối hả của tác giả để
đi tìm nguồn sáng. Và hình ảnh vầng trăng tròn tình cờ mà tự nhiên, đột ngột
hiện ra vằng vặc giữa trời, chiếu vào căn phòng tối om kia, chiếu lên khuôn mặt
đang ngửa lên nhìn trời, nhìn trăng kia.
=> Tình huống gặp lại trăng
là bước ngoặt tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ trong tình cảm và suy nghĩ của
nhân vật trữ tình với vầng trăng. Vầng trăng đến đột ngột đã làm sáng lên cái
góc tối ở con người, đánh thức sự ngủ quên trong điều kiện sống của con người
đã hoàn toàn đổi khác.
- Bất ngờ đối diện với vầng
trăng, con người đã có cử chỉ, tâm trạng:
Ngửa mặt lên nhìn mặt
Có cái gì rưng rưng.
- Tư thế “ngửa mặt lên nhìn
mặt” là tư thế đối mặt: “mặt” ở đây chính là vầng trăng tròn. Con người thấy
mặt trăng là thấy được người bạn tri kỉ ngày nào. Cách viết thật lạ và sâu sắc!
- Cảm xúc “rưng rưng” là biểu
thị của một tâm hồn đang rung động, xao xuyến, gợi nhớ gợi thương khi gặp lại
bạn tri kỉ. Ngôn ngữ bây giờ là nước mắt dưới hàng mi. Một tình cảm chừng như
nén lại nhưng cứ trào ra đến thổn thức, xót xa. Cuộc gặp gỡ không tay bắt mặt
mừng này đã lắng xuống ở độ sâu của cảm nghĩ. Trăng thì vẫn phóng khoáng, vô
tư, độ lượng biết bao, như “bể”, như “rừng” mà con người thì phụ tình, phụ
nghĩa.
- Trước cái nhìn sám hối của
nhà thơ, vầng trăng một lần nữa như gợi lên bao cái “còn” mà con người tưởng
chừng như đã mất. Đó là kỉ niệm quá khứ tốt đẹp khi cuộc sống còn nghèo nàn,
gian lao. Lúc ấy con người với thiên nhiên - vầng trăng là bạn tri kỉ, là tình
nghĩa. Nhịp thơ hối hả dâng trào như
tình người dào dạt. Niềm hạnh phúc của nhà thơ như đang được sống lại một giấc
chiêm bao.
- Bài thơ khép lại ở hình ảnh:
“Trăng cứ
tròn vành vạnh
..............Đủ
cho ta giật mình”
- Trăng hiện lên đáng giá biết
bao, cao thượng vị tha biết chừng nào. Ở đây có sự đối lập giữa “tròn vành
vạnh” và “kẻ vô tình”, giữa cái im lặng của ánh trăng với sự “giật mình” thức
tỉnh của con người.
+ Trăng tròn
vành vạnh, trăng im phăng phắc không
giận hờn trách móc mà chỉ nhìn thôi, một cái nhìn thật sâu như soi tận đáy tim
người lính đủ để giật mình nghĩ về cuộc sống hoà bình hôm nay. Họ đã quên mất
đi chính mình, quên những gì đẹp đẽ, thiêng liêng nhất của quá khứ để chìm đắm
trong một cuộc sống xô bồ, phồn hoa mà ít nhiều sẽ mất đi những gì tốt đẹp nhất
của chính mình.
+ Trăng tròn
vành vạnh là hiện diện cho quá khứ đẹp đẽ không thể phai mờ. Ánh trăng chính là
người bạn nghĩa tình mà nghiêm khắc nhắc
nhở nhà thơ và cả mỗi chúng ta: con người có thể vô tình, có thể lãng quên
nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt.
- Sự không vui, sự trách móc trong lặng im của
vầng trăng là sự tự vấn lương tâm dẫn
đến cái “giật mình” ở câu thơ cuối. Cái “giật mình” là cảm giác và phản xạ tâm
lí có thật của một người biết suy nghĩ, chợt nhận ra sự vô tình, bạc bẽo, sự
nông nổi trong cách sống của mình. Cái “giật mình” của sự ăn năn, tự trách, tự
thấy phải đổi thay trong cách sống. Cái “giật mình” tự nhắc nhở bản thân không
bao giờ được làm người phản bội quá khứ, phản bội thiên nhiên, sùng bái hiện
tại mà coi rẻ thiên nhiên. Câu thơ thầm nhắc nhở chính mình và cũng đồng thời
nhắc nhở chúng ta, những người đang sống trong hoà bình, hưởng những tiện nghi
hiện đại, đừng bao giờ quên công sức đấu tranh cách mạng của biết bao người đi
trước.
III. Kết luận:
Cách 1:
Bài thơ “Ánh
trăng” là một lần “giật mình” của Nguyễn Duy về sự vô tình trước thiên nhiên,
vô tình với những kỉ niệm nghĩa tình của một thời đã qua. Thơ của Nguyễn Duy
không hề khai thác cái đẹp của trăng, nhưng ánh trăng trong thơ ông vẫn mãi làm
day dứt người đọc - sự day dứt về những điều được và mất, nên và không, khi
sống trong cuộc đời. Vẻ đẹp ấy mới chính là vẻ đẹp của văn chương cách mạng vì
thơ không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, con người mà còn “dạy” ta cách
học làm người. Thì ra những bài học sâu sắc về đạo lí làm người đâu cứ phải tìm
trong sách vở hay từ những khái niệm trừu tượng xa xôi. Ánh trăng thật sự đã
như một tấm gương soi để thấy được gương mặt thực của mình, để tìm lại cái đẹp
tinh khôi mà chúng ta tưởng đã ngủ ngon trong quên lãng.
Cách 2: Bài thơ khép lại nhưng đã để
lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Nguyễn Duy - một phong cách rất giản
dị nhưng mang triết lí sâu xa. Nó gợi ra trong lòng chúng ta nhiều suy ngẫm sâu
sắc về cách sống, cách làm người “uống nước nhớ nguồn” ân nghĩa thuỷ chung cùng
quá khứ.
Liên quan (Diemchuantuyensinh.com)
>> Xem điểm chuẩn vào lớp 10 cả nước
>> Xem thống kê điểm chuẩn lớp 10 hàng năm
Lớp 9, Ngữ văn, Ngữ văn 9, ôn thi, Văn mẫu, Văn mẫu, lớp 9, Ngữ văn, Ngữ Văn 9, Ôn thi, ôn thi vào 10,
>> Xem thống kê điểm chuẩn lớp 10 hàng năm
Lớp 9, Ngữ văn, Ngữ văn 9, ôn thi, Văn mẫu, Văn mẫu, lớp 9, Ngữ văn, Ngữ Văn 9, Ôn thi, ôn thi vào 10,
Liên quan
=> Để xem thống kê điểm chuẩn vào lớp 10 nhiều năm liền bấm vào đây
Tải app VNPAY nhận ngay 50.000 vào ví => Bấm vào đây
-->Kiếm tiền trên điện thoại->bấm vào đây
--> Đào coin Renec miễn phí, Bấm vào đây để kiếm tiền

0 comments Blogger 0 Facebook
Post a Comment